Căn cứ Xử ủy Nam Bộ Trung ương Cục miền Nam ở U Minh (cuối 1949 – đầu 1955) – Nhớ lại đôi điều thời gian đi phục vụ trong Đoàn kiểm tra Đảng Quân Dân Chánh Nam Bộ ở Khu 9

Lê Quang Đức – nguyên cán bộ Ban Kiểm tra Xứ ủy Nam Bộ

Sau đợt đưa học sinh các Trường Trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố, Thái Văn Lung, Huỳnh Phan Hộ ra công tác đầu năm 1950, đến tháng 10, Đảng chủ trương giải thể các trường. Ba anh em chúng tôi, học sinh Trường Nguyễn Văn Tố là Đào Văn Trợ – Liên chi ủy viên Đảng bộ Sở Giáo dục, Lê Quang Đức – Chi ủy viên Chi bộ nhà trường và Phạm Khôi Khoa (quần chúng) được đưa về Ban Kiểm tra Xứ ủy.

Theo giao liên, chúng tôi được đưa đến Phòng Chánh trị Bộ Tư lệnh Khu 9 đóng cách bờ sông Trẹm 300 m, ngang kinh 2, con kinh băng ngang rừng tràm nối rạch Ông Sâu sông Cái Tàu ngang rạch Hàn Nhỏ – đường nước đi vô trường Nguyễn Văn Tố. Tiếng nói là ra trường phục vụ kháng chiến đang trong giai đoạn “Tích cực cầm cự chuyển mạnh sang Tổng phản công” nhưng thật ra chúng tôi được đưa về cơ quan nằm sâu trong vùng an toàn Khu 9, chỉ cách trường khoảng 15 km đường chim bay.

Chúng tôi được đồng chí Nhâm, lớn tuổi (khoảng hơn 40) phụ trách quản trị cơ quan đón tiếp ân cần. Chú sắp xếp nơi ăn ở và dặn dò chúng tôi: “Ban Kiểm tra Xứ ủy mới thành lập do đồng chí Võ Quang Anh, quyền Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9 làm Trưởng ban.

Các em nghỉ ngơi đôi ngày, để anh về sẽ sắp xếp việc làm cho các em, tạm thời các em dự họp hội ý mỗi sáng ở cơ quan (nghe có tình hình, văn thư gì mới) với cán bộ của phòng”. Chúng tôi thật ngỡ ngàng, học sinh mới ra trường, nhỏ tuổi (anh Trợ 21 tuổi, Đức 19, Khoa 18) lại được tham dự sinh hoạt chánh trị với các cán bộ phần đông là cán bộ đại đội, cán bộ tiểu đoàn, có cả cán bộ trung đoàn (đồng chí Hoàng Thế Thiện – Chánh ủy Trung đoàn Sông Lô vừa vô tới cũng ở trong nhóm này).

Mấy ngày sau, đồng chí Võ Quang Anh về tới. Sáng hôm sau, sau hội ý cơ quan, anh gặp chúng tôi. Sau khi hỏi sơ qua sức khỏe, tâm trạng và nói đôi lời động viên, an ủi, anh cho biết: Ban Kiểm tra Xứ ủy ở Khu 9 mới thành lập nhưng chưa có bộ máy, chúng tôi là nhân sự đầu tiên của văn phòng Ban.

Chúng tôi tạm thời ăn ở, làm việc tại đây đợi các đồng chí có trách nhiệm về sẽ tách ra lập cơ quan riêng. Quản trị cơ quan sắp xếp chúng tôi ăn ở sinh hoạt tại đây, dọn chỗ cho chúng tôi sắp xếp, phân loại các văn thư Đảng – Chính quyền – Mặt trận, đoàn thể, báo cáo của các tỉnh gởi về, làm tóm lược để chuẩn bị báo cáo cho các đồng chí lãnh đạo Ban.

Chúng tôi phân công nhau: anh Trợ xử lý văn thư Đảng, Đức lo phần chính quyền, Khoa lo phần Mặt trận và các đoàn thể. Mấy hôm sau, anh Trợ được cho về Bạc Liêu vì có văn thư của Tỉnh ủy Bạc Liêu xin anh. Tôi lãnh luôn hồ sơ anh giao lại.

Chúng tôi làm xong phân loại, mục lục, đang làm tóm lược nội dung thì đoàn kiểm tra đi Rạch Giá về đến. Sau khi hội ý, đồng chí trưởng đoàn trở về đơn vị, các phái viên trở về ngành. Đồng chí Thái Sơn “sung công” tôi ghi chép giúp đồng chí làm báo cáo cho đoàn.

Đồng chí Hiển về đến, đem chúng tôi về ở nhà ba má đồng chí Lữ Triều Phú (tức Lữ Minh Châu) trên bờ kinh Hãng đầu kinh 30, gần văn phòng Xứ ủy để tiện làm việc. Khi các phái viên các ngành đến đủ, tôi và Khoa phân công nhau trình bày nội dung các văn bản. Sau đó mấy ngày, anh Hiển kêu tôi và Khoa đến cho biết anh gởi Khoa về công tác ở Mặt trận Liên Việt – Sóc Trăng, đồng chí Hạnh, Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy, nhận Khoa và hứa giúp đỡ Khoa tiến bộ.

Ở đây, cơ quan kiểm tra Đảng, Khoa chưa là đảng viên nên chưa phân công công việc của Đảng cho Khoa được; còn nếu phân công việc quản trị thì Khoa khó phát huy năng lực tiến bộ. Tối hôm ấy, tôi đưa Khoa ra trạm giao liên Huyện Sử lên đường đi Sóc Trăng với bao nỗi niềm lưu luyến.

Chắc chắn các bạn học cùng lứa chúng mình hồi đó đặt câu hỏi: Trình độ chúng mình hồi đó thì giúp ích gì được cho công tác kiểm tra của Ban Kiểm tra Xứ ủy?

Tôi xin kể lại mấy việc gây ấn tượng nhớ đời:

1. Làm việc phân loại, mục lục hồ sơ thì dễ, làm tóm lược nội dung báo cáo với lãnh đạo mới khó. Trí nhớ chúng tôi hồi đó tốt quá, đầu óc trống trải, ý thức lo sợ không làm nổi trách nhiệm nên đầu óc rất tập trung. Do đó mà “thuộc lòng” nhiều và “trả bài” được khen. Việc này hết sức có lợi cho chúng tôi. Chính nhờ việc này mà chúng tôi được các anh Hiển, anh Thái Sơn tóm lược giải thích, đánh giá cặn kẽ các văn bản, báo cáo giúp chúng tôi hiểu – nắm sâu hơn các văn bản.

2. Anh Hiển biểu đọc kỹ phần nội dung lãnh đạo phối hợp Đảng Quân Dân Chính trong nghị quyết Hội nghị cán bộ Khu 9. Sau đó anh hướng dẫn tôi viết bản đề cương báo cáo lãnh đạo phối hợp Đảng Quân Dân Chính cho Tỉnh ủy Sóc Trăng dài hơn 3 trang đánh máy. Đầu tiên làm dàn bài, sau phân thành chương mục và viết nội dung từng chương mục. Anh chịu khó giải thích cặn kẽ từng phần, từng ý, câu chữ, kềm cặp tôi làm được việc.

Anh Thư hướng dẫn tôi viết Tổng kết phong trào cách mạng Rạch Giá do Đảng lãnh đạo. Tôi làm thư ký các cuộc họp, ghi chép các ý kiến phát biểu của mấy anh. Anh Thư bàn với tôi dàn bài tổng kết và anh biểu tôi sắp xếp, hệ thống các ý kiến phát biểu riêng lẻ từng người (loại bỏ trùng lắp). Tôi làm theo ý anh.

Lúc bấy giờ công việc hội nghị với địa phương suốt ngày, có khi cả đêm. Đêm nào nghỉ, anh làm việc với tôi đến 10 giờ tối mới thôi; đêm nào hội họp, sau đó anh làm việc với tôi đến 12 giờ hoặc hơn mới nghỉ.

Trên cơ sở ghi chép của tôi, anh có ý kiến bổ sung và sắp xếp lại, phải duyệt tới lui nhiều lần mới hoàn thành tổng kết.

Tôi kể 2 việc này để thấy tình cảm, ý thức trách nhiệm của các anh hồi đó nâng đỡ, đào tạo cán bộ trẻ chúng tôi. Và tôi cũng thấy, các anh chịu khó trước nên càng về sau, công việc các anh rảnh rang nhẹ nhàng hơn.

3. Các bạn còn nhớ – hồi đó đâu có sách vở, nhiều bài học chúng tôi phải tự ghi chép bài giảng của thầy mà ta gọi là ký chú. Nhờ đó mà khi về kiểm tra, tôi được phân công làm thư ký hội nghị. Hội nghị liên miên, kéo dài – nhất là kiểm điểm cá nhân. Người trình bày mau – chậm, lê thê tôi đều ghi đủ ý. Nhiều lần xảy ra “đôi chối”, chủ tọa phải đọc lại biên bản, tất cả hội nghị đồng ý biên bản ghi đúng nên đương sự hết cãi. Tôi được nhiều lần, nhiều người khen về việc này.

Và có lẽ từ đó mà tôi biết nhiều việc “thâm cung bí sử”, việc riêng tư của nhiều người ở những nơi công tác qua.

4. Sau này, tôi có nghe nhiều người nói lại việc “bẻ cổ vịt tàu” ở Rạch Giá. Chuyện truyền miệng qua nhiều người thêu dệt nên sai sự thật.

Bấy giờ (1950-1951), sản xuất nông sản thực phẩm ở vùng căn cứ Khu 9 sụt giảm nghiêm trọng nhất là sụt giảm lúa gạo; vải sồ, thuốc men, dầu trong, chai bột quá thiếu (nếu có chút ít thì cũng là hàng chui, hàng lậu rất đắt) nên ta có chủ trương cho dân bán ra vùng giặc kiểm soát một số sản phẩm để giải quyết bớt khó khăn cho dân. Trong các sản phẩm đó có lông vịt. Phong trào nuôi vịt rầm rộ, vịt đầy đồng.

Tôi còn nhớ một buổi sáng sớm đi công tác, tôi chống xuồng đi suốt con kinh băng qua cánh đồng chạy ngang nhà thờ Tô-ma đã lượm được hơn 10 hột vịt đẻ rơi. Hột vịt bán chui (lớp muối, lớp để nguyên). Vịt xấu, vịt già, vịt trống làm thịt lấy lông vịt bán. Thịt ướp muối diêm phơi khô cũng bán chui (gọn hơn bán “nhảy dù” nguyên con). Xuất hiện đội ngũ mua gom “nhảy dù chuyên nghiệp”.

Đàn vịt phát triển “vô tội vạ” cho đến khi các “nhà kinh tế” phát hiện tính toán, có con số hẳn hoi, mỗi con vịt một ngày ăn tối thiểu bao nhiêu lúa nhân lên con số đàn vịt ước đoán chung toàn tỉnh, rồi ước đoán số lúa còn trong dân, thì chỉ trong mấy tháng nữa thôi, đàn vịt sẽ ăn hết số lúa trong dân. Thử tưởng tượng Rạch Giá thiếu gạo ăn, ảnh hưởng đến các tỉnh thì tình hình cả căn cứ Khu 9 sẽ ra sao? Tình hình báo động phải mau lẹ “dẹp” vịt tàu.

Tỉnh, huyện khẩn trương tập trung cán bộ (toàn thể Đảng – Quân Dân Chính) phân chia xuống các xã nuôi nhiều vịt nhất vận động nhân dân “dẹp” vịt (phải mua nhiều muối diêm cho dân làm vịt phơi khô, phải giảm bớt lúa cho vịt ăn, thậm chí không cho vịt ăn lúa). Nhiều chủ vịt không tích cực làm, nên phải tập trung người đến vận động các nơi đó.

Và đã xảy ra trường hợp một cán bộ bị chủ vịt phản ứng gây xô xát và cán bộ nóng nảy đã bẻ cổ vịt trước mặt dân. Một việc nhỏ nhưng rất nhạy cảm lan truyền rất nhanh, gây xôn xao dư luận rộng lớn, rất bất lợi cho uy tín của chính quyền cách mạng. Tỉnh, huyện phải họp dân tại chỗ xin lỗi dân và báo động sự việc xảy ra đáng tiếc này để ổn định dư luận.

“Dẹp” vịt tàu là chuyện lớn. “Bẻ cổ vịt tàu” là chuyện nhỏ. Trong trường hợp này, chuyện nhỏ bao trùm phủ lấp chuyện lớn. Toàn bộ câu chuyện đáng để nhớ đời.

5. Hồi đó ta chủ trương “bao vây kinh tế địch”. Khu 9 giàu có nông sản thực phẩm: lúa gạo, gia súc, cá trên đồng – sông – biển, khóm, dừa, chuối, cam, quít, đậu nành, bí rợ, khoai mì, khoai lang, mật ong, củi, than đước… Hàng hóa dồi dào ứ đọng nên giá rẻ mạt. Nông dân chán nản, diện tích canh tác sụt giảm.

Ăn thì dư thừa nhưng vải sồ, thuốc men, dầu trong, chai bột thì quá thiếu thốn. Rách rưới, bệnh tật, đi lại khó khăn gây khổ cho dân. Đi đâu cũng nghe kêu than, nhất là trong các cuộc họp ấp, xóm. 3 nhu cầu – 3 mặt hàng thiết yếu kể trên được nhắc tới – nhắc lui – nhắc hoài – nhắc mãi – càng nhắc càng bức xúc nên có người khóc lóc, la ó, giậm chân kêu trời…

Từ đó có “phong trào nhảy dù” tức lén lút chở nông sản thực phẩm ra vùng giặc kiểm soát bán để mua nhu yếu phẩm đem về. Dân “nhảy dù ” rồi người tốt cũng “nhảy dù”, có vợ con cán bộ, đảng viên cũng “nhảy dù”. Rồi hình thành một số người chuyên sinh sống bằng “nhảy dù”.

Chiều lại, người nhảy dù tập trung có nơi lên đến 200-300 xuồng và khi mặt trời vừa khuất, họ đồng loạt khởi hành như một trận dông bão (tôi nhớ Bảy Ngàn là nơi tập trung nhiều nhất). Không lực lượng nào ngăn cản nổi – nổ súng chỉ thiên hăm dọa họ cũng không quan tâm. Ta thì ngăn, chống – giặc thì đón rước tạo thuận lợi dễ dàng cho việc mua bán…

Đoàn có một báo cáo đầy đủ về việc này.

Sau đó, phải đến cuối 1952 đầu 1953, Hội nghị Trung ương Cục mở rộng ra nghị quyết mở rộng giao lưu 2 vùng – Ủy ban Kháng chiến – Hành chánh Nam Bộ ra nghị định mở rộng giao lưu 2 vùng và Sở Tài chánh ra chỉ thị hướng dẫn thi hành nghị định trên.

Vùng căn cứ Khu 9 rộng lớn “như cỏ cây khô héo vì hạn hán lâu dài được trận mưa to” vùng dậy với sức sống mới.

6. Một bài thơ “nhộn” nhớ mãi.

Đoàn là một tập thể thân ái, vui nhộn. Sau việc làm, việc ăn ở vui chơi giải trí vui vầy như một “lứa”.

Đoàn có 2 trái banh xin của Sóc Trăng. Ở đâu đôi ngày là có dọn sân, giăng dây đánh bóng chuyền. Đánh không hay (phải nói là quá dở) nhưng la cười thì vang dội, lôi kéo cả thanh niên trong xóm tới tham gia. Mỗi chiều sau 5 giờ là sân chơi vui nhộn đến chạng vạng tối mới nghỉ.

Sinh hoạt bằng “văn hóa trào lộng” thì cụ Bảy Nguyên đứng đầu. Cụ là giáo sư trường Pétrus Ký, đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Định, phái viên Ủy ban Kháng chiến – Hành chánh Nam Bộ. Ông già có tuổi, khoảng 45-50 tuổi, từng trải, có kiến thức nên cụ có nhiều chuyện kể rất vui, ý nghĩa. Đặc biệt cụ thích làm thơ và làm thơ “vè” rất dễ dàng, rất vui.

Trong chuyến đi Thạnh Trị, đoàn phải đi từ chiều qua một cánh đồng khô nứt nẻ đến 8 giờ tối mới vượt qua lộ 4 gần sóc Tà É (gần Đại Ngãi), khoảng Sóc Trăng – Bạc Liêu. Qua lộ thì tới vùng mương, rạch chằng chịt nên phải qua nhiều cầu. Có mấy người trong đoàn không quen đi đứng trên địa hình này lại bị trời tối nên té liên miên xuống mương, xuống rạch, quần áo, bao bị ướt dầm. Đến khoảng nửa đêm mới tới nơi nghỉ.

Hôm sau phải đến hơn 10 giờ mới lên đường đi tiếp, lại phải băng qua một cánh đồng khô nứt nẻ nên mọi người đều rất mệt nhọc. Anh Thái Sơn trong đoàn cao ốm, mang ba lô nặng, gập mình về trước vừa bước vừa nghiêng mình qua lại theo nhịp bước. Chị Nga mặt mày bơ phờ, mồ hôi nhễ nhại, ráng lê từng bước, miệng thở phì phì…

Nhiều người rơi rớt lê thê phía sau nên phải chờ đợi, mang đồ đạc giúp cho nhau. Đến nơi tắm rửa cơm nước xong, tối hôm ấy họp đoàn. Ông Bảy đọc một bài thơ 8 câu mà nay tôi chỉ còn nhớ lại có 4 câu:

Một cầu, một cầu, lại một cầu

Phái đoàn hì hục lội như trâu

Chị Nga đi trước sôi mồm mép

Chàng Thái theo sau ngút ngắt đầu.

Trình bày thơ trước đoàn thì cụ đọc như trên nhưng bản viết tay cụ đưa cho tôi thì chữ “chị” cụ ghi là “cái”, chữ “chàng” ghi là “cu”.

Cả đoàn và sau đó cả hội nghị Quân Dân Chính Đảng toàn huyện, toàn tỉnh đều cười nghiêng ngửa về bài thơ này. Chị Nga cũng cười khen hết lời. Nhưng sau đó, tôi nghe nói lại chị về cơ quan phụ nữ, có ai đó giải thích sao đó mà chị đã tức giận đến “méc” với anh Tư là “ông già Nguyên nói tục” và “coi thường phụ nữ”.

Trong cuộc họp báo cáo công tác của đoàn tại Hội nghị Thường vụ Xứ ủy mở rộng, bài thơ được cả hội trường vỗ tay khen hay. Anh Sáu Thọ khen thơ cụ Bảy có “hơi hướng thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương” .
Ghi lại mấy việc làm kỷ niệm để nhớ nhau./.

Nguồn: baocamau.com.vn